Quyết toán thuế TNCN với trường hợp có 2 mã số thuế

  • Ke Toan Gioi
  • 15
  • 0

Câu hỏi:

Trong năm 2020 tôi có làm việc tại hai tổ chức (đều làm GTGC bản thân tại tổ chức chi trả thu nhập). Từ tháng 1/2020 - 3/2020 tại tổ chức A, từ tháng 4/2020 - nay tại tổ chức B. Đến tháng 03/2021 tôi nhận được Chứng từ khấu trừ thuế tại cả hai tổ chức và tự đi làm quyết toán thuế TNCN tại Chi cục thuế Ba Đình, nhưng bị trả hồ sơ do số liệu không khớp (chưa tìm được nguyên nhân).

Đến tháng 05/2021 sau khi rà soát lại hai Chứng từ khấu trừ thuế từ cả hai tổ chức chi trả thu nhập, tôi phát hiện mình có 02 MST cá nhân. Tôi tra cứu trên trang tra cứu MST thì nhận thấy MST đầu tiên được đăng ký theo số CMND cũ (tại Đống Đa) và MST thứ hai theo CCCD mới (tại Ba Đình).

Để đúng pháp luật, tôi đã làm đơn hủy MST thứ hai tại Chi cục thuế Ba Đình, giữ lại MST đầu tiên và thay đổi thông tin từ CMND sang CCCD (tại Đống Đa). Hai việc này đã hoàn tất.

Tôi muốn hỏi: 1. Trước đó vào tháng 3/2021, khi chưa phát hiện ra tôi có 02 MST cá nhân, tổ chức chi trả thu nhập sau cùng đã xuất Chứng từ khấu trừ thuế theo MST thứ hai. Đến nay MST thứ hai đã bị hủy. Vậy để làm được quyết toán thuế TNCN tôi có thể nhờ tổ chức chi trả thu nhập sau cùng xuất lại chứng từ khấu trừ thuế theo MST đầu tiên không. Nếu xuất lại thì có đúng với quy định của pháp luật?

2. Chi cục thuế trực tiếp quản lý tổ chức chi trả thu nhập sau cùng cho tôi là Chi cục thuế Ba Đình. Vậy tôi có thể làm quyết toán thuế TNCN tại Ba Đình hay không?

Trả lời:

 Căn cứ khoản 2 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn về khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế như sau:

“Điều 25. Khấu trừ thuế và chứng từ khấu trừ thuế

2. Chứng từ khấu trừ

a) Tổ chức, cá nhân trả các khoản thu nhập đã khấu trừ thuế theo hướng dẫn tại khoản 1, Điều này phải cấp chứng từ khấu trừ thuế theo yêu cầu của cá nhân bị khấu trừ. Trường hợp cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thì không cấp chứng từ khấu trừ.”

- Căn cứ khoản 4 Điều 4 Thông tư 37/2010/TT-BTC ngày 18/3/2010 hướng dẫn về sử dụng chứng từ khấu trừ tự in như sau:

“Điều 4. Sử dụng chứng từ khấu trừ tự in

...

4- Trường hợp lập lại chứng từ khấu trừ.

Những trường hợp chứng từ khấu trừ đã được lập và giao cho người nộp thuế, sau đó phát hiện sai phải lập lại chứng từ khấu trừ thay thế thì tổ chức trả thu nhập phải lập biên bản ghi rõ nội dung sai, số, ngày chứng từ khấu trừ đã lập sai có chữ ký xác nhận của người nhận thu nhập, đồng thời yêu cầu người có thu nhập nộp lại liên chứng từ đã lập sai (liên giao cho người bị khấu trừ) cho tổ chức trả thu nhập để lưu cùng với biên bản. Sau khi đã thu hồi chứng từ khấu trừ lập sai, tổ chức trả thu nhập lập chứng từ khấu trừ mới thay thế để giao cho người nộp thuế và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số chứng từ khấu trừ huỷ bỏ.”

- Căn cứ khoản 8 Điều 11 Nghị định 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế như sau:

“Điều 11. Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế

Người nộp thuế thực hiện các quy định về địa điểm nộp hồ sơ khai thuế theo quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 45 Luật Quản lý thuế và các quy định sau đây:

8. Địa điểm nộp hồ sơ khai thuế đối với người nộp thuế là cá nhân có phát sinh nghĩa vụ thuế đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công thuộc loại phải quyết toán thuế thu nhập cá nhân theo quy định tại điểm d khoản 4 Điều 45 Luật Quản lý thuế như sau:

b.2) Cá nhân cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức chi trả khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế như sau:

Cá nhân đã tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập nào thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế trực tiếp quản lý tổ chức, cá nhân trả thu nhập đó. Trường hợp cá nhân có thay đổi nơi làm việc và tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập cuối cùng có tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế quản lý tổ chức, cá nhân trả thu nhập cuối cùng. Trường hợp cá nhân có thay đổi nơi làm việc và tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập cuối cùng không tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế nơi cá nhân cư trú. Trường hợp cá nhân chưa tính giảm trừ gia cảnh cho bản thân ở bất cứ tổ chức, cá nhân trả thu nhập nào thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế nơi cá nhân cư trú.

Trường hợp cá nhân cư trú không ký hợp đồng lao động, hoặc ký hợp đồng lao động dưới 03 tháng, hoặc ký hợp đồng cung cấp dịch vụ có thu nhập tại một nơi hoặc nhiều nơi đã khấu trừ 10% thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế tại cơ quan thuế nơi cá nhân cư trú.

Cá nhân cư trú trong năm có thu nhập từ tiền lương, tiền công tại một nơi hoặc nhiều nơi nhưng tại thời điểm quyết toán không làm việc tại tổ chức, cá nhân trả thu nhập nào thì nơi nộp hồ sơ khai quyết toán thuế là cơ quan thuế nơi cá nhân cư trú.”

Căn cứ quy định trên,chúng tôi có ý kiến như sau:

1. Trường hợp tổ chức chi trả đã khấu trừ, lập và giao chứng từ khấu trừ thuế TNCN cho người nộp thuế, sau đó phát hiện sai phải lập lại chứng từ khấu trừ thay thế thì tổ chức trả thu nhập phải lập biên bản ghi rõ nội dung sai, số, ngày chứng từ khấu trừ đã lập sai có chữ ký xác nhận của người nhận thu nhập, đồng thời yêu cầu người có thu nhập nộp lại liên chứng từ đã lập sai (liên giao cho người bị khấu trừ) cho tổ chức trả thu nhập để lưu cùng với biên bản. Sau khi đã thu hồi chứng từ khấu trừ lập sai, tổ chức trả thu nhập lập chứng từ khấu trừ mới thay thế để giao cho người nộp thuế và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số chứng từ khấu trừ huỷ bỏ.

2. Trường hợp cá nhân cư trú có thu nhập tiền lương, tiền công thuộc diện tổ chức chi trả khấu trừ tại nguồn từ hai nơi trở lên thì nộp hồ sơ khai quyết toán thuế theo hướng dẫn tại khoản 8 Điều 11 Nghị định 126/2020-TT-BTC ngày 19/10/2020 của Chính phủ.

Cẩm nang